Thế hệ thợ mỏ 4.0
Thứ Hai, ngày 10/07/2017

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 - một cụm từ mới mẻ đã được mổ xẻ trong nhiều diễn đàn gần đây. Đó cũng là mục tiêu của các nhà lãnh đạo kinh tế vĩ mô đưa nền kinh tế của chúng ta vào quỹ đạo này. Trên thực tế, những người thợ mỏ cũng đã bước đầu bắt tay vào nền công nghiệp này với đầy hy vọng cho một tương lai tươi sáng.

Về cơ bản, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 dựa trên nền tảng kỹ thuật số sẽ làm phát triển các lĩnh vực chính về tự động hoá, công nghệ sinh học và lĩnh vực vật lý. Xét theo các lĩnh vực trên thì nền kinh tế của chúng ta cũng đã và đang cùng với thế giới bắt đầu đi vào quỹ đạo này. Các nhà kinh tế học cho rằng, mặc dù là nước đang phát triển, đi sau nhưng chúng ta có lợi thế là đi tắt đón đầu, tiếp cận nhanh những tiến bộ của khoa học kỹ thuật như: Việt Nam cũng đã tham gia khá sâu rộng trong lĩnh vực internet và truyền thông, kỹ thuật số với khoảng 55% dân số tiếp cận. Nhiều phần mềm chuyên dụng đã được thiết kế theo phiên bản Việt hoá. Về sinh học trong gieo trồng và cấy ghép trong y khoa cũng như lĩnh vực vật lý như in 3D… Việt Nam cũng đã có được những thành tựu nhất định. Trong đó, đối với ngành công nghiệp khai thác và chế biến than, khoáng sản, lĩnh vực ứng dụng sâu rộng nhất là ứng dụng phần mềm chuyên dụng vào các dây chuyền tự động hoá và kết nối số trong quản lý, điều hành.

Có thể nhiều người chưa biết, nhưng trên thực tế, ngồi tại bất cứ đâu, lãnh đạo điều hành Tập đoàn đều có thể nhìn thấy hoạt động của những vị trí quan trọng như sản xuất, tiêu thụ than…

Ngồi tại văn phòng làm việc, cầm trên tay một chiếc ipad, ông Võ Khắc Nghiêm, Phó Giám đốc Công ty Kho vận Đá Bạc - TKV chỉ tay vào những khuôn hình camera và cho biết, các công việc ngoài cảng vẫn đang diễn ra suôn sẻ. Than đang rót xuống tàu và đồng thời vẫn được vận chuyển từ các đơn vị ra đều đặn. Không chỉ có ông Nghiêm mà các hình ảnh này cũng được lãnh đạo điều hành Tập đoàn theo dõi chỉ đạo dù ở bất cứ nơi đâu.

Công ty Cổ phần Vận tải và Đưa đón thợ mỏ không chỉ quản lý các xe ca đưa đón thợ mỏ, mà còn quản lý một khối lượng lớn các xe tải chở than, đất đá phục vụ các đơn vị sản xuất, chế biến than. Một hệ thống GPS tích hợp trong tất cả các xe giúp cho cán bộ điều hành xe chỉ ngồi một chỗ mà theo dõi hàng trăm xe máy thiết bị của mình đang hoạt động ở đâu trên bản đồ với đầy đủ các thông số kỹ thuật như tốc độ, hoạt động của các máy, trích ngang về tên tuổi trình độ của người vận hành… Cũng thông qua đó, kết hợp với các thiết bị di động, bộ đàm, cán bộ điều hành có thể “di quân cờ” của mình một cách hợp lý, hiệu quả nhất.

Ứng dụng công nghệ thông tin, GPS, thiết bị di động trong lò để quản lý điều hành sản xuất tại Công ty than Khe Chàm

Cũng với hệ thống GPS, tại văn phòng chỉ huy sản xuất của Công ty than Khe Chàm, Kỹ sư Đinh Ngọc Anh, Phó Giám đốc Công ty di chuột trên một màn hình lớn hiển thị sơ đồ các đường lò ở dưới mức -300 mét so với mực nước thông thuỷ. Dưới đó có rất nhiều những dấu chấm với đủ các màu sắc đang động đậy hoặc di chuyển. Chỉ nhìn vào đó, đồng chí Phó Giám đốc Kỹ thuật An toàn có thể biết rằng những công nhân, cán bộ nào của mình đang làm việc, kiểm tra ở đâu. Nhưng điều quan trọng hơn cả là khi Đinh Ngọc Anh di chuột đến vị trí nào thì các thông số chi tiết về tên tuổi, trình độ, bậc thợ… của các công nhân, cán bộ đó hiện lên một cách rõ ràng. “Như vậy, tại gương lò này hiện nay có 8 công nhân đang làm việc. Trong đó có 1 Tổ trưởng, thợ lò bậc cao 6/6, hai thợ bậc 5 còn lại đều là bậc 4…”. “Còn đây, cán bộ chỉ huy trong ca đang làm việc tại vị trí này…” - Đinh Ngọc Anh cho biết và rút máy gọi điện bằng hệ thống sóng di động dưới lò cập nhật nhiều thông tin tại các vị trí khác trong toàn mỏ…

Hiện nay, hàng tháng, lãnh đạo điều hành Tập đoàn và lãnh đạo các đơn vị đều họp giao ban điều hành sản xuất thông qua hình thức trực tuyến tại tất cả các điểm cầu trên cả nước, xa nhất là thành phố Hồ Chí Minh và Tây Nguyên. Riêng đối với Quảng Ninh có 3 văn phòng họp trực tuyến tại 3 thành phố Cẩm Phả, Hạ Long và Uông Bí… Hình thức này cùng với việc gửi công văn qua mạng Portal đã tiết kiệm khá nhiều các chi phí trong quản lý điều hành. Và điều quan trọng là nó “nhanh như điện” sau một cú bấm nút Enter.

Trên đây chỉ là một vài ví dụ cụ thể về áp dụng công nghệ số hoá tại một số đơn vị. Ngoài ra, chúng ta có thể thấy các công đoạn số hoá áp dụng vào kỹ thuật và điều hành sản xuất tại nhiều đơn vị khác khá hiệu quả như: Hệ thống Potal chuyển phát công văn qua mạng điện tử từ Tập đoàn đến gần như 100% các đơn vị đã áp dụng; hệ thống kiểm soát khí mỏ tự động ở tất cả các đơn vị khai thác hầm lò; hệ thống kiểm soát người ra vào lò cũng đã được áp dụng ở hầu hết các đơn vị… Đặc biệt, nhiều đơn vị cũng đã ứng dụng công nghệ số để tự động hoá các dây chuyền sản xuất, giảm số người làm việc đáng kể như: Dây chuyền vận chuyển băng tải than Công ty than Mạo Khê; dây chuyền vận chuyển và sàng tuyển Công ty Tuyển than Cửa Ông…

Với chủ trương cơ giới hoá, tự động hoá và tin học hoá ở tất cả các dây chuyền sản xuất có thể cũng như ứng dụng trong quản lý điều hành, Tập đoàn đang từng bước tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại nhất hiện nay. Và đó chính là những bước đi vững chắc, từng bước cùng với đất nước và nhân loại đưa thế hệ thợ mỏ của thế kỷ XXI đến với nền công nghiệp 4.0.

Bài viết khác