Lấy vợ quê
Thứ Sáu, ngày 30/12/2016

Đa phần trong số đội ngũ thợ lò là những thanh niên trẻ từ các vùng quê ra lập nghiệp. Và cũng phần lớn trong số họ… lấy vợ ở quê. Tưởng như đây là một câu chuyện phiếm nhưng nó hiện đang gây ra một hệ lụy không nhỏ, ảnh hưởng đến chính đời sống và sự gắn bó với nghề của họ cũng như những chính sách thu hút thợ lò của Tập đoàn.

Trước hết phải nói đến thực trạng cho thấy, hiện nay có hàng vạn thợ lò vùng Than Quảng Ninh ở độ tuổi lập gia đình. Phần lớn, họ lựa chọn về quê lấy vợ. Cái đặc thù của ngành khai thác mỏ hầm lò là không có nữ làm việc. Số chị em làm các công việc phụ trợ như nhà ăn, phục vụ, vận hành sàng tuyển… chỉ là một lực lượng mỏng. Đa phần các thợ lò trẻ, sau khi học xong nghề mỏ, ra trường về các mỏ mới tính chuyện lập gia đình. Thợ lò 4/6 Phạm Đức Hạnh, sinh năm 1988, quê Hải Dương tâm sự: “Cháu ra trường được mấy năm, gia đình ai cũng giục xây dựng gia đình để yên bề gia thất. Nhưng cánh thanh niên chúng cháu ra Quảng Ninh có cảm giác ít bạn gái. Chỉ có số ít may mắn xây dựng cùng với các bạn nữ là con của một số gia đình các bác làm mỏ đã lâu, còn lại phần lớn đều về quê lấy vợ. Cháu cũng vậy, lấy vợ nhưng để vợ ở quê làm công ty may mặc. Thi thoảng một hai tuần cháu mới về thăm nhà”. Cùng chung hoàn cảnh này với Hạnh, anh thợ trẻ Nguyễn Thanh Liêm, sinh năm 1990, quê Thái Bình cũng lấy vợ ở quê. Tuần nào Liêm cũng về quê thăm vợ con. Liêm chia sẻ, khi ra trường cũng tính chuyện xây dựng gia đình ở Quảng Ninh, nhưng nhìn quanh ở các công trường trong công ty thì toàn chị đã xây dựng gia đình. Ra ngoài thì cũng khó tìm, hoặc không hợp với phong cách sống của một số gia đình khá giả… Thế là phải về quê lấy vợ. Muốn xin việc ở Quảng Ninh để cùng xây dựng cuộc sống nhưng không được. Biết là có nhiều bất cập, nhưng vẫn phải cố gắng. Nhiều khi đi làm về đã mệt, nghĩ về quê ngại lắm. Nhiều hôm, cuối tuần, đi ca ba rồi về quê luôn, lên xe ngủ một mạch, đến khi phụ xe gọi mới dậy. Một anh bạn gần nhà làm cùng Liêm cũng vậy. Hai anh em trước còn bảo nhau đi xe máy, nhưng sau một lần va quệt, may không sao. Thế là thôi, cứ đi ô tô cho lành.

Đây là tình trạng chung của không ít thợ lò trẻ và nó không còn mới mẻ. Hệ lụy của nó trước hết ảnh hưởng nhiều đến công việc và sức khỏe. Về tâm lý, thợ lò có vợ ở quê ít nhiều cũng ảnh hưởng đến chất lượng lao động vì thường phải lo lắng cho gia đình ở xa. Thợ lò ở tập thể dù có được Công ty chăm sóc đến mấy cũng không thể bằng sự chăm sóc của gia đình. Ở tập thể, ngoài giờ lao động, đi ca, thợ lò trẻ thường chơi bời không giờ giấc vì không có người đốc thúc, nhiều trường hợp rượu chè say sưa, quán xá triền miên, ảnh hưởng đến sức khỏe. Thậm chí, không ít trường hợp vướng vào các tệ nạn xã hội. Đây cũng là lý do khiến cho người thợ lò không chú tâm vào công việc. Thậm chí, nhiều người chơi lô, đề, cờ bạc rồi dẫn tới nợ nần… phải bỏ việc.  Chuyện đi lại nhiều, hàng tuần, một vài tuần hay hàng tháng để về quê… cũng khiến cho thợ lò phải bỏ ra một khoản chi phí không hề nhỏ cho tàu xe, nước thuốc, quà bánh… Nắm bắt được những khó khăn này, Công ty than Khe Chàm đã có sáng kiến, cho thợ lò làm việc liên tục các ngày trong tuần, cứ đủ từ 20 công trở lên là cho về quê đến hết tháng. Thế là nhiều anh em gắng làm liên tục, cuối tháng về quê chơi với vợ con cả tuần. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là giải pháp tình thế. Bởi đó không phải là cách làm việc khoa học và lâu dài.

Câu chuyện này không phải bây giờ mới được lãnh đạo Tập đoàn và các đơn vị quan tâm. Còn nhớ, những năm 1995 - 2000, Tập đoàn khi đó cho thành lập một công ty may mặc Bái Tử Long ở khu vực Cao Sơn, Cẩm Phả. Công ty này có mục tiêu là thu hút lực lượng lao động nữ là vợ con thợ lò để giúp các gia đình trẻ giải quyết công ăn việc làm cũng như ổn định đời sống cho người thợ. Đây là một nghĩa cử hết sức nhân văn. Nó có cái gì đó gần gũi, tâm lý, thực tế và ẩn chứa một chiến lược lâu dài. Tập đoàn hy vọng Công ty sẽ phát triển mạnh mẽ vì chỉ cần riêng lĩnh vực may quần áo bảo hộ lao động cho các đơn vị, Công ty này đã có thể đã đủ doanh thu và đứng vững. Nếu cao cấp hơn mà may được sơ-mi, vec-ton cạnh tranh được trên thị trường thì sẽ phát triển tốt hơn nữa… Nhưng không hiểu vì lý do gì mà Công ty không những không phát triển được mà còn phải bán lại cho đơn vị ngoài. Nhiều người lý giải, do chị em vợ con thợ mỏ chỉ quen với hòn than, hay chị em mới vào thì chỉ quen ruộng đồng, nay chuyển sang lĩnh vực may mặc không cạnh tranh được. Xem ra cách lý giải không thuyết phục cho lắm. Bởi trên thực tế, những hãng may mặc có danh tiếng với nhiều hàng xuất khẩu đi khắp thế giới, nguồn nhân lực chính ở đâu ra, nếu không phải là họ đã đào tạo từ chính những người nông dân?. Và hơn thế nữa, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa  đất nước, những nhà nông chỉ quen với việc cuốc việc cày nay lại là lực lượng được đào tạo, học tập để chuyển sang những người thợ cầm cờ-lê, mỏ-lết tại hầu hết các khu công nghiệp…

Với ý nghĩa lớn lao đó, cùng với những câu chuyện rất đời của thợ mỏ, thiết nghĩ, chúng ta cần tiếp tục quan tâm đến thợ mỏ thông qua việc quan tâm đến vấn đề gia đình của mỗi người thợ. Chúng ta đã quan tâm rất nhiều đến thợ lò thông qua hàng loạt các chính sách về tiền lương thu nhập, về chăm lo đời sống văn hóa tinh thần, từ ăn ở đi lại, cải thiện điều kiện làm việc v.v. Đó là những thành công không hề nhỏ. Nhưng việc thu hút thợ lò vẫn còn chưa được như mong muốn. Do vậy, chúng ta vẫn cần phải lùi lại để hiểu thêm thợ lò muốn gì và tìm ra nút thắt trong việc thu hút người lao động làm việc trong lò. Trong khi chờ nút thắt ấy được tháo gỡ, về quê lấy vợ và để vợ ở quê vẫn đang là một nỗi niềm canh cánh của không ít thợ mỏ…

Bài viết khác