Càng xuống sâu, càng nhiều gian khó, thử thách lòng chúng tôi…
Thứ Bảy, ngày 27/01/2018

“Âm 35 độ sâu chúng tôi đi vào trong lòng đất

Âm 35 độ sâu những bước đi chuyển rung núi đồi

Nắng hay gió, suối hay khe đều ở cả trên đầu

Càng xuống sâu, càng nhiều gian khó,

                                  thử thách lòng chúng tôi…”

Từ một ca khúc…

Những câu từ và giai điệu trong bài hát “Thơ của thợ lò” của nhạc sỹ Đỗ Hòa An khá hay và trữ tình, thể hiện trung thực hình ảnh những người thợ lò đi sâu vào trong lòng đất, để lại trên đầu tất cả nắng gió và cuộc sống thường nhật đang diễn ra sôi động. Sau bao năm, bài hát đã thực sự “đi cùng năm tháng”, ăn sâu vào tâm khảm của mỗi thợ mỏ và những người sống trên đất mỏ. Tuy nhiên, theo năm tháng ấy, giờ đây, những người thợ mỏ đã đi sâu hơn rất nhiều lần, đến mức âm 200 rồi âm 300 mét so với mực nước biển kể từ khi bài hát ra đời chỉ ở mức âm 35. Điều đó càng cho thấy sức mạnh và những bước tiến không ngừng nghỉ của những người thợ mỏ trong hành trình chinh phục lòng đất của mình.

Với những bước tiến vượt bậc trong khai thác than hầm lò dưới lòng đất của thợ mỏ, chỉ sau khi bài hát ra đời vài năm, ở thời điểm mấy thập niên trước, nhiều người đã hát thành: “Âm 50 độ sâu, chúng tôi đi vào trong lòng đất…”. Và cho đến thời điểm hiện nay, câu hát đó là: “Âm 300 độ sâu, chúng tôi đi vào trong lòng đất…”. Đó là một hiện thực. Và ở đây, tác giả dường như đã thực sự đứng về phía người thợ lò, hiểu sâu sắc những vất vả, gian nan, thử thách trong công việc của họ: “Càng xuống sâu, càng nhiều gian khó, thử thách lòng chúng tôi…”. Nghệ sỹ Vùng mỏ Nguyễn Văn Tuất là người say mê âm nhạc của Đỗ Hòa An thông qua các ca khúc ông viết về Vùng mỏ và người thợ lò. Ông Tuất tâm sự, trong số hàng trăm ca khúc của nhạc sỹ Đỗ Hòa An, bài nào ông cũng thấy hay, nhưng đi vào lòng ông nhất là ca khúc “Thơ của thợ lò”. Không phải vì ông là thợ lò, đã làm lò mà có tình cảm riêng, nhưng ca khúc này quyến rũ ông cả về giai điệu lẫn ca từ. Viết được như thế, nhạc sỹ Đỗ Hòa An quả là đã phải ba cùng với thợ lò, ăn cùng, làm cùng, ngủ cùng… mới có thể hiểu thợ lò đến thế. Ca khúc này của Đỗ Hòa An đã đạt giải Nhất, Giải thưởng Văn nghệ Hạ Long năm 2005 do UBND tỉnh Quảng Ninh trao tặng.

… nghĩ về sức mạnh của thợ lò

Nghệ sỹ Vùng mỏ Nguyễn Văn Tuất, nguyên là thợ lò Công ty CP than Mông Dương đã nghỉ hưu. Ông nhấc chén trà nóng lên, để lộ những vết than đen hằn trên tay. Ông bảo, những vết than đó là kỷ niệm về một thời đi lò của ông, và nó sẽ theo ông đến hết cuộc đời. Mấy thập niên qua, ngoài duy nhất mỏ than Mông Dương tổ chức khôi phục lò giếng từ thời Pháp để lại là xuống âm 97,5 mét so với mực nước biển. Còn lại đa phần các mỏ than khai thác tại vùng mỏ đều ở từ mức trên cao rồi xuống sâu dần. Có mỏ khai thác trên mức dương 100, dương 200… Khi khai thác xuống đến mức âm 35 đã là một kỳ tích. Khai thác càng xuống sâu càng đòi hỏi về kỹ thuật phải cao, bản lĩnh người thợ phải vững. Thợ lò thường phải đối mặt với ba thách thức chính.

Thợ lò tự tin làm việc dưới lòng đất sâu

Thứ nhất là áp lực mỏ. Để điều khiển được áp lực mỏ, thợ mỏ đã nhiều lần thay đổi công nghệ chống lò. Từ việc chuyển từ chống gỗ sang chống bằng vì sắt, đến việc chuyển từ chống vì sắt sang chống bằng cột thủy lực đơn đã là một bước tiến dài. Giờ đây, công nghệ chống lò đã được các đơn vị hiện đại hóa bằng các loại giá chống, giàn chống di động, tự hành… Thợ lò đã làm chủ được áp lực mỏ cho dù độ sâu khai thác đã xuống dưới âm 300 mét so với mực nước biển. Và tương lai sẽ còn sâu hơn nữa.

Thứ hai, thách thức trong việc kiểm soát các hiểm họa, đặc biệt là về khí và nước. Trong quá trình đưa các mỏ xuống sâu, không ít đơn vị đã gặp phải hiểm họa về khí cháy, khí nổ metal. Đối với các vỉa than có độ sâu càng lớn, độ thoát khí metal càng nhiều. Công tác thông gió và kiểm soát khí mỏ trở thành một nhiệm vụ quan trọng. Đến nay, hầu hết các đơn vị khai thác hầm lò đã được trang bị hệ thống cảnh báo khí tự động tại tất cả các vị trí trọng điểm của hệ thống khai thác. Khi nồng độ khí metal cao, hệ thống sẽ phát tín hiệu cảnh báo, đồng thời tự động ngắt điện khu vực mất an toàn. Đối với hiểm họa về nước cũng vậy. Dưới lòng đất có thể sẽ chứa các túi nước bị nén với áp suất cao. Trong quá trình khai thác, thợ lò luôn phải khoan tháo nước trước các gương lò để triệt tiêu những sự cố về nước. Nếu thực hiện việc khoan tháo nước không đảm bảo có thể dẫn tới hiện tượng bục nước. Và đây là sự cố rất nguy hiểm cho người và thiết bị.

Thứ ba, càng khai thác xuống sâu, công tác đi lại, vận chuyển vật tư, vật liệu, than, đất đá… càng trở nên khó khăn.Thách thức này ngoài việc đòi hỏi thợ mỏ phải áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để đồng bộ các khâu trong dây chuyền sản xuất, đây còn là vấn đề làm tăng các chi phí về đầu tư cũng như chi phí sản xuất. Chẳng hạn như, để đưa một mỏ xuống khai thác tại mức âm 300, mỏ than Khe Chàm III đã phải đầu tư hơn 2.000 tỷ đồng và đồng thời phải mất đến 7 năm mới có thể cho ra tấn than đầu tiên. Nhiều mỏ mới đang xây dựng xuống các mức âm 300, âm 500 mét có tổng mức đầu tư lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng. Giá thành tăng cao đang là thách thức lớn đối với những người thợ mỏ trong giai đoạn hiện nay…

Đang trầm ngâm, Nghệ sỹ Vùng mỏ Nguyễn Văn Tuất như hào hứng hơn khi ngân nga câu hát: “Càng xuống sâu, càng thêm gian khó, thử thách lòng chúng tôi…”. Ông bảo, đúng như nhạc sỹ Đỗ Hòa An đã viết, gian khó sẽ càng nhiều khi Thợ mỏ càng khai thác xuống sâu hơn. Vậy mà lớp lớp các thế hệ Thợ lò cứ thế, đêm ngày đào hết đường lò này đến đường lò khác, xuống sâu hết độ sâu này đến độ sâu khác. Chỉ bằng một ca từ, bài hát đã nói lên được sức lao động mạnh mẽ của những người thợ lò. Thợ mỏ đã không quản ngại những khó khăn, thách thức trong suốt bao nhiêu năm qua để đưa những vỉa than từ độ sâu hàng trăm mét lên mặt đất phục vụ cuộc sống của con người. “Tuy nhiên, cái thần của bài hát còn ở chỗ, dù cho khó khăn, thách thức như vậy, nhưng hình ảnh những người thợ lò vào ca vẫn hiện lên đầy lãng mạn. Đó chính là sự lạc quan, yêu đời, tự tin như phẩm chất vốn có của những người thợ mỏ…” - Nghệ sỹ Vùng mỏ Nguyễn Văn Tuất nói và ngân nga:

“…Thợ lò đi ca ba, trăng sáng chờ treo đầu núi

Chờ xin anh bài thơ viết từ nơi sâu thẳm…”.